Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

BỆNH ĐAU NỬA ĐẦU

Trong bối cảnh của cuộc sống căng thẳng vì kẹt xe, giờ học, giờ làm việc, giá sinh hoạt, lại thêm bệnh tật chực chờ, muốn không đau đầu chỉ có thể là… siêu nhân! Nhưng chuyện gì cũng có nặng - nhẹ. Đánh giá theo cường độ của cơn đau, đau đầu kiểu nào cũng không thấm vào đâu nếu so sánh với cơn đau nửa đầu.


                                                               Ảnh minh họa

Quán quân về... đau đầu
Khác với đa số trường hợp đau đầu do viêm xoang, thoái hóa cột sống, cảm mạo... cơn đau nửa đầu xuất hiện đột ngột như trời giáng và kéo dài nhiều giờ, thậm chí đến đôi ba ngày! Cơn đau thường định vị nửa đầu, cứ như bị ai gõ búa vào đầu từng đợt đi kèm với cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng. Điểm đáng ghét của đau nửa đầu là bệnh thừa nước đục thả câu. Bằng chứng là bệnh chực chờ phát cơn đau vào những lúc như: hành kinh, sau một đêm mất ngủ, sau một ngày làm việc đuối sức, khi thay đổi thời tiết và nhất là khi tích lũy bực bội vì stress!

Đau nửa đầu kéo dài có thể gây nhiều hậu quả nguy hại như trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc làm mất thị lực và mù vĩnh viễn.

Nếu chỉ có thế thì chứng đau nửa đầu chưa đủ điểm để nhận giải quán quân về đau đầu. Cùng lúc với cơn đau kêu trời không thấu, nạn nhân chứng đau nửa đầu còn phải chịu trận khổ triền miên với hàng loạt biểu hiện: rối loạn thần kinh dưới hình thức ù tai, mờ mắt, tê dại nửa người, biến động tâm lý dưới dạng trầm uất, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, sợ mùi tanh, rối loạn tiêu hóa, nôn mửa đến mật vàng, mật xanh...

Khi người bệnh đi khám thì đau nửa đầu vẫn dễ bị chẩn đoán nhầm với một số nguyên nhân gây đau đầu khác như viêm xoang… nên có thể dẫn đến điều trị không đúng căn nguyên. Những người bị đau nửa đầu không chỉ thường xuyên bị cơn đau hành hạ, mà lâu ngày bệnh còn dẫn đến những hậu quả nguy hại khác cho sức khỏe như suy giảm trí nhớ, khó tập trung, trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc, dẫn đến mất thị lực và mù vĩnh viễn.

Lệ thuộc thuốc đau đầu - đòn bẩy của nhiều bệnh
Khổ hơn nữa cho người bệnh là tuy hiện nay không thiếu thuốc giảm đau nhưng để cắt đứt cơn đau nửa đầu lại thật không dễ - vì bệnh hầu như “xem” thuốc giảm đau loại thông thường “không ra gì”! Thầy thuốc tuy đang có trong tay một số thứ thuốc đặc hiệu, nhưng éo le lại ở điểm thuốc nào cũng có phản ứng phụ khi dùng dài lâu, đặc biệt trên hệ tuần hoàn. Hậu quả là có bệnh nhưng không dám uống thuốc (!).
Đi xa hơn nữa, theo Hiệp hội Đau nửa đầu CHLB Đức (DMG), dùng thuốc giảm đau trong trường hợp đau nửa đầu dễ dẫn đến hội chứng đau đầu vì lệ thuộc thuốc. Vì thế, để tránh phải lệ thuộc không nên dùng thuốc đau đầu mỗi lần lâu hơn 3 ngày và mỗi tháng nhiều hơn 10 ngày.

Kẹt cho nạn nhân đau nửa đầu là bệnh ít khi kéo dài vài giờ. Bệnh cũng ít khi xuất hiện mỗi tháng vài ngày. Chính vì thế mà bệnh nhân đau nửa đầu là “ứng viên” hàng đầu của tình trạng không - uống - thuốc - không - xong - nhưng - nghỉ - thuốc - lại - đau -đầu. Nếu tưởng chỉ hại có thế thì lầm. Theo cảnh báo của DMG, lệ thuộc thuốc đau đầu chính là đòn bẩy của tai biến mạch máu não và trầm uất.

Tác nhân gốc tự do
Các nghiên cứu gần đây nhận thấy, gốc tự do và các hóa chất trung gian sinh ra trong quá trình chuyển hóa ở não làm gia tăng hoạt động bạch cầu, khởi phát quá trình viêm và sản sinh chất gây giãn mạch nitric oxide và histamine. Tình trạng này xảy ra quá mức làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu. Những cơ chế phức tạp này dẫn đến những rối loạn vận mạch, khiến mạch máu não giãn nở, biến đổi bất thường và gây nên cơn đau nửa đầu.

Nghiên cứu tại ĐH Graz (Áo) thấy rằng ở những bệnh nhân đau nửa đầu, các men chống gốc tự do thấp hơn nhiều so với nhóm chứng. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra chỉ số phản ứng oxy hóa trong máu tăng cao ở những bệnh nhân đau nửa đầu, làm sản sinh ra vô số gốc tự do gây hại cho mạch máu.

Bên cạnh đó, gốc tự do còn là tác nhân thúc đẩy sự hình thành những mảng xơ vữa và tạo huyết khối, từ đó làm hẹp động mạch, cản máu vận chuyển oxy và dưỡng chất đến não, khiến hoạt động não bị ảnh hưởng và gây nên nhiều bệnh nguy hiểm cho não.

Ngoài tác nhân gốc tự do, những cơn đau nửa đầu còn được biết đến là hậu quả của các yếu tố khác như: sự di truyền gen dễ bị tổn thương, ảnh hưởng của các kích thích dây thần kinh cảm giác, sự phóng thích các peptides thần kinh...

Đón đầu dễ hơn rượt đuổi
Gặp ùn tắc ắt phải tìm lối khác. Không riêng gì chứng bệnh đau nửa đầu, đau đầu kiểu nào cũng thế, nếu mạch máu trong não bộ đừng co thắt thái quá đến độ gây thiếu máu, đồng thời dòng máu đừng tăng áp lực đột ngột thì không còn cơn đau đầu.

Nói cách khác, thay vì phải đánh đổi với phản ứng phụ của thuốc hóa chất, tốt hơn nhiều là làm sao thư giãn mạch máu bằng cách giữ độ đàn hồi thành mạch và độ loãng lý tưởng của dòng máu. Đáng tiếc là nhiều nạn nhân của chứng bệnh đau nửa đầu chưa được thông tin về công dụng bảo vệ hệ thần kinh và thông mạch máu của chất chống gốc tự do như anthocyanin, pterostilbene... trong blueberry, từ đó giúp ngăn chặn cơn đau ở người dễ đau đầu. Mặt khác, các hoạt chất sinh học chống gốc tự do này có khả năng vượt qua hàng rào máu não, kích hoạt các men chống gốc tự do tự nhiên của cơ thể như catalase và superoxide dismutase… Các men này góp phần giúp bảo vệ tế bào thần kinh, duy trì tốt hoạt động cho não.

Đón đầu bao giờ cũng dễ hơn rượt đuổi, hay đợi bệnh đến rồi mới chữa?!

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

BÀI THUỐC CHỮA HO KHAN

Ho là biểu hiện của nhiều chứng bệnh khác nhau như: viêm họng, viêm thanh, phế quản... Thường gặp và tái phát khi thời tiết lạnh giá, khô hanh hay giao mùa... Nhiều người phải đối mặt với những cơn ho khan sặc sụa kéo dài hàng tháng trời mà không hết.

Ảnh minh họa

 Trong Đông y, ho được xếp vào chứng “khái” hay “khái thấu”, nguyên nhân do phế, tỳ, thận khí hư... Phong hàn táo nhiệt xâm nhập cơ thể qua đường miệng, mũi hoặc bì phu cơ nhục, khiến phế khí mất tuyên thông sinh ho. Nay xin giới thiệu với độc giả bài thuốc chữa ho khan đơn giản, dễ tìm, dễ áp dụng để độc giả áp dụng khi cần thiết.

Nguyên liệu: nghệ vàng 10 - 15g, lá trầu không 5 - 6 lá.

Chế biến: Nghệ loại bỏ đất cát rửa sạch, trầu không chọn lá bánh tẻ bóng mập rửa sạch, tất cả đem xay hay giã nhuyễn, chế khoảng 1/3 bát nước sôi để nguội lọc lấy nước cốt, chia nhỏ uống 4 – 5 lần trong ngày sáng, trưa, tối mỗi lần 2 – 3 thìa cà phê, thường uống 1 – 2 ngày là có kết quả. Bài thuốc có tác dụng ôn can thận, thanh phế, ích tỳ, sát khuẩn, khứ mủ, phá ung nhọt, sạch hầu họng. Thích dụng cho những chứng bệnh viêm họng, viêm phổi, viêm amidal..., nhất là tình trạng ho khan, ho kéo dài không rõ nguyên nhân...

Theo Đông y, trầu không vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm; có tác dụng ôn trung, hành khí, khư phong tán hàn, tiêu thũng chỉ thống, hóa đàm, chống ngứa... Được dùng thuốc sát khuẩn, làm săn da, làm chất kích thích, làm chất lợi nước bọt, phòng chống bệnh lỵ, sốt rét và trị các bệnh đường hô hấp, dạ dày, bỏng... Dưới nhãn quan của y học hiện đại, lá trầu không chứa 0,8 - 2,4% tinh dầu thơm, có vị nồng, chủ yếu là 2 phenol: betel-phenol là đồng phân của eugenol và chavicol kèm theo nhiều hợp chất phenolic khác.

 Nghệ vị cay, đắng, tính ôn vào hai kinh can và tỳ, nghệ tác dụng phá u cục, huyết tích, trị mụn nhọt, sát khuẩn kích thích mọc tổ chức hạt và cầm máu. Thường dùng trị các bệnh lý gan thận, bệnh phụ nữ, phá ung nhọt, cầm máu, trị vết thương... Theo YHHĐ, trong nghệ có chứa 0,3% curcumin, 3-5% tinh dầu, 25% cacbua tecpenic, chủ yếu là zingiberen và 65% xeton sespuitecpenic, các chất turmeron... Được ứng dụng trị ho, các bệnh dạ dày tá tràng, u xơ tử cung, u xơ tiền liệt tuyến, bổ huyết, cầm máu...

Chú ý: Bài thuốc này không dùng cho phụ nữ mang thai, thai phụ sau sinh không có huyết ứ không nên dùng.
Để nâng cao hiệu quả, người bệnh nên bôi dầu hoặc dán cao vào huyệt dũng tuyền (huyệt ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn đầu ngón chân thứ 2 và giữa bờ sau gót chân, lỗ hõm dưới bàn chân) cửa ngõ của thận, thận được ôn ấm, phế khí tốt tất sẽ giảm ho.

THẢO DƯỢC TRỊ ĐAU NHỨC RĂNG

Ðau răng và bệnh về răng rất hay gặp ở mọi lứa tuổi. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng các bệnh về răng gây đau đớn, nhiều khi phát sốt, không ăn uống được… ảnh hưởng đến sức khỏe và công việc cho người bệnh. Dưới đây là một số thảo dược trị chứng này rất hiệu quả, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

                                                Cây lá lốt sắc đặc ngậm chữa đau nhức răng

Ðối với trẻ nhỏ
Lợi răng bị sưng, gây đau răng, thậm chí không thể ăn được: lấy 1 cái xác rắn (xà thoái), đốt thành than, cho vào mỡ lợn, trộn đều, rồi xát vào lợi.

Trường hợp chân răng bị sưng, thối lở (cam tẩu mã) dùng bột thanh đại, hay còn gọi là bột chàm (bột chàm nhuộm vải), bôi xát vào chân răng, sau 10 - 20 phút súc miệng sạch bằng nước muối loãng, ngày 5 - 10 lần.

Ðối với người lớn
Khi răng, lợi bị sưng, răng đau nhức nhiều, có thể dùng bột thanh đại cùng với một số vị thuốc khác: thanh đại 40g, phèn chua 20g, hùng hoàng, mai hoa, băng phiến mỗi vị 1g. Tất cả nghiền thành bột mịn, trộn đều, đóng vào lọ, nút kín, để nơi khô ráo. Dùng bột này chấm, xát vào chỗ răng lợi bị sưng đau rồi ngậm 5 - 10 phút. Súc miệng sạch. Ngày làm 5 - 10 lần. Hoặc có thể dùng một số vị thuốc dễ kiếm để cắt các cơn đau, như sau:

Dùng búp lá non của cây bàng, có thể thêm chút muối ăn, nhai ngậm, mỗi lần 5 - 10 phút. Sau mỗi lần ngậm, súc miệng sạch. Ngày làm 3 - 5 lần.

Ngoài ra, có thể dùng dưới dạng nước sắc của một số vị thuốc sau đây để ngậm, khi răng đau, nhức:

10 lá trầu không cắt nhỏ, thêm một bát nước sạch, sắc nhanh (20 phút), lấy nước ngậm mỗi khi đau răng, mỗi lần ngậm 5 - 10 phút. Ngày 5 - 10 lần. Có thể dùng để chữa bệnh nha chu viêm.

Lấy vỏ tươi cây ruối cắt thành miếng nhỏ, thêm nước, sắc đặc (tỷ lệ 1:1), lấy nước ngậm khi răng bị đau nhức. Ngày nhiều lần, mỗi lần 10 - 20 phút. Sau mỗi lần lại súc miệng sạch.

Toàn bộ cây lá lốt, sắc đặc, lấy nước, ngậm ngày nhiều lần.

Vỏ thân cây sao đen, cạo bỏ lớp bần thô bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vị lá lốt và sao đen, đồng lượng, rồi đem sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụng giảm đau nhanh hơn.

Một số bài rượu thuốc chữa đau răng
Lấy các hoa tươi của cây cúc áo ngâm rượu (50g hoa ngâm với 300ml rượu) trong 10 - 15 ngày là được. Ngày làm 5 - 10 lần, mỗi lần ngậm 10 - 15 phút. Sau đó súc miệng sạch.

Tế tân, thạch cao mỗi vị 10g. Đem rễ tế tân, rửa sạch, phơi khô, cắt nhỏ, hoặc tán thành bột thô. Thạch cao tán thành bột thô. Hai thứ ngâm với 100ml rượu trong 10 - 15 ngày, lấy dịch chiết, ngậm khi đau răng. Cách dùng tương tự như vị cúc áo.

Dùng quả gần chín, hoặc chín khô, hoặc rễ xuyên tiêu ngâm với ethanol 60 - 70 độ, tỷ lệ 1:5 (nếu dùng rễ xuyên tiêu, cần rửa sạch, phơi khô, tán bột thô). Sau khi ngâm 1 - 2 tháng, lấy dịch thuốc, dùng tăm bông tẩm thuốc chấm vào chỗ răng, lợi bị sưng đau.

Nụ hoa khô của cây đinh hương tán giập rồi ngâm rượu, chiết lấy dịch thuốc, làm tương tự như vị xuyên tiêu.

CÁ LÓC TỐT CHO NGƯỜI HUYẾT ÁP THẤP

Huyết áp (HA) thấp là khi lượng máu lưu thông dưới mức bình thường, áp lực máu yếu với các biểu hiện thường xuyên chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ. Bệnh thường gặp ở người thể trạng yếu, phụ nữ sau sinh và người già, người làm việc căng thẳng, rối loạn nội tiết hay đang phải dùng thuốc điều trị đái tháo đường, suy tim, ung thư... Xin giới thiệu một số món ăn - bài thuốc từ cá lóc tốt cho người huyết áp thấp.

                                                                           Cá lóc

Bài 1: Cá lóc lùi lửa - Bổ khí huyết, chữa bệnh huyết áp thấp: cá lóc 200g, rau diếp cá, nước chấm, bánh tráng. Cá lóc trát đất xung quanh rồi lùi vào đống lửa. Khi thấy đất khô cứng, nứt nẻ là cá đã chín. Bóc bỏ lớp đất, bỏ ruột để ăn với lá diếp cá. Ngoài ra, có thể dùng thêm các loại rau thơm khác, chấm mắm nêm ăn với bánh tráng.

Bài 2: Cá lóc nấu đậu đỏ - Chữa bệnh huyết áp thấp, thận hư nhiễm mỡ: cá lóc 1 con 250g, đậu đỏ 200g, cá lóc làm sạch, bỏ ruột, nấu chín nhừ với đậu đỏ. Ăn hết một lần.

Bài 3: Cá lóc, bí đao - Thanh nhiệt, điều hòa dạ dày, tiêu thũng, làm mát máu, chữa huyết áp thấp: cá lóc 1 con 250g, đậu đỏ 500g, bí đao 200g, đường phèn 30g. Cá lóc làm sạch, đậu đỏ, bí đao và một chút đường phèn cùng nước vừa đủ, lúc đầu nấu bằng lửa to cho sôi, sau đó bớt lửa, hầm nhừ cho đến khi đậu nở. Chia làm 2 lần ăn trong ngày. Ăn cả cái lẫn nước.

Cá lóc lùi lửa bổ khí huyết, rất thích hợp cho người bị huyết áp thấp.

Bài 4: Cá lóc nấu thịt lợn - An thần, ích trí, tiêu thũng, huyết áp thấp: cá lóc 1 con 500g, thịt lợn nạc 100g, long nhãn 6g, táo đỏ 6 quả, rượu 20g, muối, hành, gừng. Rán cá, thịt lợn thái mỏng, táo bỏ hột, cho nước vừa đủ, nấu nhừ ăn nóng.

Bài 5: Cá lóc nấu hồng sâm - Bổ nguyên khí, thường dùng sau phẫu thuật tuyến tiền liệt, suy yếu, mệt mỏi, đoản hơi, sắc mặt nhợt nhạt, huyết áp thấp: cá lóc 1 con khoảng 400g, đông quỳ tử 24g, hồng sâm 9g, hoài sơn 30g, sinh hoàng kỳ 30g. Cá lóc làm sạch, bỏ vào nấu, lấy vải mỏng bọc đông quỳ tử, hồng sâm thái phiến. Cho nước vừa đủ, nấu lửa nhỏ trong 2 giờ là ăn được.

Bài 6: Cá lóc hầm lá tỏi - Dưỡng huyết, tiểu ra máu do tỳ hư, huyết áp thấp, bổ não, tăng trí nhớ, bệnh đau đầu, hay quên: cá lóc 250g, lá tỏi, gia vị. Cá lóc thái mỏng, lá tỏi cắt đoạn hầm nhừ, nêm gia vị, chia 2 lần ăn trong ngày.

LÁ XƯƠNG SÔNG CHỮA VIÊM HỌNG,THANH QUẢN


Viêm họng thanh quản là tình trạng tổn thương do viêm nhiễm niêm mạc vùng hầu họng, thanh quản. Có nhiều nguyên nhân khác nhau như ô nhiễm môi trường, thời tiết thay đổi bất thường, cơ thể không thích nghi kịp thời gây đau rát khó chịu vùng hầu họng, thậm chí làm mất tiếng.
Viêm họng thanh quản gặp ở những người làm việc với cường độ giao tiếp cao hay ô nhiễm như: giáo viên, ca sĩ, luật sư, công nhân mỏ, đốt lò... Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng... Tuy nhiên, viêm họng thanh quản hoàn toàn có thể phòng và trị được. Xin giới thiệu bài thuốc kinh nghiệm chữa viêm họng, thanh quản từ lá xương sông để độc giả tham khảo áp dụng khi cần thiết.
Lá xương sông bánh tẻ 5 - 10 lá. Giấm ăn 20 - 30ml (giấm nuôi bằng chuối là tốt nhất). Lá xương sông rửa sạch để ráo nước, đập nhẹ cho ra tinh dầu nhúng giấm. Súc miệng bằng nước muối nhạt (0,9%) rồi ngậm nuốt nước dần ngày 2 – 3 lần cho tới khi khỏi, thường là 5 – 7 ngày bệnh sẽ tiến triển rõ rệt. Kinh nghiệm cho thấy, bài thuốc có tác dụng tốt với các chứng bệnh: viêm họng cấp mạn tính, viêm amiđan, viêm thanh quản kể cả đã mất tiếng...
Lá xương sông chữa viêm họng, thanh quản 1
Lá xương sông


Tại sao xương sông kết hợp với giấm lại trị được viêm hầu họng, thanh quản?
Theo YHHĐ, lá xương sông chứa tinh dầu (0,24%), methylthymol (94,96%), p-cymen (3,28%), limonene (0,12%). Trong giấm, thành phần chính là acid acetic (acid acetic có tác dụng ức chế, diệt khuẩn rất tốt, đặc biệt là các vi khuẩn như: Streptococcus, Diplococcus pneumoniae, Staphylococcus...).
Theo Đông y, xương sông vị cay, tính bình, có tác dụng khu phong trừ thấp; tiêu thũng chỉ thống, thông kinh hoạt lạc. Thích dụng để trị các chứng bệnh: cảm sốt, ho, viêm họng, viêm phế, thanh quản; trắng lưỡi, viêm miệng; đầy bụng đi ngoài, nôn mửa; đau nhức xương khớp, mày đay, sốt co giật ở trẻ em... Theo y văn cổ, giấm đã được xếp vào vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là kháng viêm từ hơn 2000 năm trước, kinh nghiệm cho thấy giấm vị đắng chua, tính ấm, quy kinh can, vị, có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, sơ thông hầu họng, tiêu thũng, giải độc, sát khuẩn, chỉ huyết (cầm máu)...
Chính vì vậy, khi phối hợp hai vị thuốc này với nhau trở thành một phương thuốc kháng viêm, giảm đau, chống phù nề tiêu ứ trệ đem lại cảm giác dễ chịu và tiếng nói thanh thoát cho những ai mắc bệnh trên.
Cần chú ý: Bài thuốc này chỉ chữa được chứng viêm họng, thanh quản thể thông thường, người bệnh cần khám cụ thể để phát hiện những căn nguyên và biến chứng như: nhân xơ thanh quản, u hay K vòm họng...
Trong quá trình điều trị, cần giữ ấm cổ, mũi họng, răng miệng, nhất là khi thay đổi thời tiết, không ăn uống đồ lạnh, đồ ướp đá, uống đủ nước...

KHÔNG PHẢI NẤM LINH CHI NÀO CŨNG CHỮA ĐƯỢC BỆNH


Hiện nay có nhiều độc giả viết thư hỏi: Ở vùng miền núi có một loại nấm giống nấm linh chi được người dân hái trên các loại cây gỗ trong rừng đem về dùng hoặc bán với lời quảng cáo là đây là nấm linh chi tự nhiên, có tác dụng như nấm linh chi được bán tại các cơ sở y học cổ truyền. Xin tòa soạn cho biết đây có phải là nấm linh chi không và có công dụng chữa bệnh như nấm linh chi thật không ? Báo Sức khỏe&Đời sống xin đăng phần trả lời của Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn - Chủ nhiệm Khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để bạn đọc tham khảo.
Trong vài chục năm gần đây, trên thị trường Đông dược nước ta, nấm linh chi và các chế phẩm của nó được lưu hành và tiêu thụ hết sức rộng rãi, nhưng chủ yếu là xích chi (Ganoderma lucidum) và tử chi (Ganoderma japonicum), hai loại đã dùng làm thuốc từ lâu đời và được nghiên cứu hiện đại tương đối đầy đủ. Trên thực tế, kết quả thống kê cho thấy chủng loại linh chi là rất phong phú, ước tính toàn thế giới có 104 loài linh chi. Riêng Trung Quốc có 84 loài, trong đó chỉ có 12 loài được dùng làm thuốc như xích linh chi, tử linh chi, hắc linh chi (G. atrum), bạc thụ chi (G. capense), mật văn bạc chi (G.tenue), tùng sam linh chi (G. tsugae), thụ thiệt…
Không phải nấm linh chi nào cũng chữa được bệnh 1Loại nấm giống nấm linh chi mà người dân miền núi đang sử dụng.
Nếu xích chi và tử chi đã được bàn đến rất sâu sắc trong các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Biệt lục, Bản thảo kinh tập chú, Dược tính luận, Tân tu bản thảo… về phương diện dược tính và công năng chủ trị, đồng thời nghiên cứu hiện đại về dược lý và lâm sàng cũng rất phong phú và toàn diện thì các loại nấm linh chi khác cho đến nay chưa có số liệu khảo sát về lâm sàng và độc tính.
Theo quan sát trên hình ảnh, có thể tạm thời nhận định đây cũng là một loại nấm linh chi nhưng không phải là loại đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi. Như trên đã nói, nấm linh chi là một loại dược liệu qúy đã được dùng để trị bệnh và bảo vệ sức khỏe từ lâu đời. Tuy nhiên không phải  bất cứ loại linh chi nào cũng được dùng để làm thuốc. Theo kinh nghiệm của cổ nhân và kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại, trong hơn 100 loài linh chi chỉ có một số rất ít được dùng để chữa bệnh, trong đó đặc biệt thông dụng là linh chi chuẩn hay còn gọi là xích chi và tử chi, hai loại đã được khảo sát khá kỹ về dược lý và lâm sàng.
Vậy nên, câu trả lời trước mắt là với loại nấm này, trước khi sử dụng, rất cần phải được đưa đến các cơ sở nghiên cứu dược liệu và lâm sàng hiện đại để xác định rõ tên khoa học, vì với nhiều loại nấm linh chi việc xác định tên khoa học là hết sức khó khăn (riêng xích chi cũng đã có 45 thứ không dễ xác định) và nghiên cứu tính hiệu quả và tính an toàn của nó. Hơn nữa, người tiêu dùng và người bệnh cũng cần phải hết sức cảnh giác với việc gian thương nhân cơ hội “cơn sốt nấm linh chi” sản xuất hàng giả và tự đặt giá để trục lợi kiếm lời. Không khéo, chuyện “tiền mất tật mang”, chi phí bạc triệu để đổi lấy “nấm mục”, thậm chí độc hại sẽ trở thành hiện thực rõ ràng. 

BÀI THUỐC TRỊ MỤN NHỌT MÙA NÓNG


Mụn là bệnh do nang lông - tuyến bã ở da hoạt động thái quá làm tiết nhiều bã nhờn trong khi miệng nang lông lại bị bít kín do tăng sừng hóa, chất bã nhờn bị ứ đọng lại ở lỗ chân lông tạo thành nhân mụn. Khi nhân mụn thành hình, thường có sự phát triển, tăng sinh một loại vi khuẩn ở lỗ chân lông gây nên tình trạng viêm đỏ của mụn mủ.
Theo y học cổ truyền, mụn nhọt là do hỏa độc gây ra, một số trường hợp hay tái phát do tình trạng nhiễm khuẩn mà y học cổ truyền gọi là nhiệt huyết.
Bài thuốc trị mụn nhọt mùa nóng 1
 Mùa nóng, trẻ em dễ bị mụn nhọt.
Khi mụn nhọt phát sinh có các triệu chứng: tại chỗ có sưng, nóng, đỏ, đau, toàn thân có kèm theo sốt, mạch nhanh, rêu lưỡi trắng dày. Nếu không chữa hoặc không chữa khỏi sẽ thành ổ mủ, dần dần vỡ mủ (nếu mụn nhọt dưới da dày thì khó vỡ mủ) rồi liền da thành sẹo.
Ứng với mỗi giai đoạn, có bài thuốc riêng để điều trị.
Giai đoạn viêm nhiễm (khởi phát): mụn nhỏ hình thành, ngứa, nóng, muốn gãi, giai đoạn này dùng phương pháp thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm.
Bài thuốc: kinh giới 8g, kim ngân hoa 20g, ké đầu ngựa 16g, thổ phục linh 12g, đỗ đen sao 40g, cam thảo dây 8g, vòi voi 12g, cỏ xước 12g, cho 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.
Giai đoạn hóa mủ: mụn sưng tấy thành nhọt bọc có mủ, nóng, đỏ, sốt. Dùng phương pháp thác độc bài nùng (đưa độc ra ngoài, trừ mủ).
Bài thuốc: kim ngân hoa 20g, liên kiều 12g, hoàng cầm 12g, gai bồ kết (tạo giác) 12g, bồ công anh 16g, trần bì 6g, bối mẫu 8g, cam thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.
Bài thuốc trị mụn nhọt mùa nóng 2
 Kim ngân hoa.
Giai đoạn vỡ mủ: dùng phương pháp khử hư sinh cơ (làm mất các tổ chức hoại tử, làm liền da).
Bài thuốc: uất kim 16g, đương quy 12g, hoàng kỳ 16g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, đan bì 8g, đảng sâm 16g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 6g. Cho 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.
Giai đoạn vỡ mủ phải thường xuyên rửa sạch, lau khô bằng gạc vô khuẩn để tránh tái nhiễm, nhiễm khuẩn.      

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

ĂN UỐNG THẾ NÀO SAU KHI NHỔ RĂNG?


CÂU HỎI:Bố tôi bị sâu răng, đi khám bác sĩ nói răng của bố tôi bị sâu nhiều, không giữ lại được nữa, phải nhổ bỏ. Gia đình tôi muốn biết, khi nhổ răng phải chăm sóc bố tôi ăn uống như thế nào?

TRẢ LỜI:Chế độ dinh dưỡng hợp lý trong lúc đau răng, hay khi nhổ răng sẽ giúp bệnh nhân mau lành. Việc chăm sóc ăn uống hợp lý như sau: ngày trước khi nhổ răng, nên uống vài cốc sữa đậu nành để góp phần hạn chế chảy máu và chóng lành vết thương. Sau khi nhổ răng, nên cho bệnh nhân uống nước ép dâu tây bởi dâu có hoạt chất trợ lực cho thuốc giảm đau có tác dụng tương tự thuốc aspirin. Uống tiếp vài cốc sữa đậu nành để giúp máu chóng đông và chất đạm lecithin trong đậu nành giúp vết thương mau lành. Ăn sữa chua giúp tăng tác dụng của kháng sinh chống nhiễm khuẩn nhờ có acidobacillus trong sữa, nhưng lưu ý đừng ăn quá lạnh sẽ gây ê buốt chân răng. Những ngày sau, cho bệnh nhân ăn khoai lang, đu đủ, cà rốt... vừa dễ nhai, vừa cung cấp vitamin A, cần thiết cho sự phục hồi của nướu và vết thương ở hố răng. Bệnh nhân cũng nên ăn cháo để hàm răng đỡ phải làm việc và dễ tiêu hóa. Những thức ăn nên kiêng khi nhổ răng là: các món ngọt, kể cả mật ong; các loại nước uống có ga, rượu bia, đá lạnh, các món chua như chanh, cam, quýt, bưởi, canh chua, dưa cà muối chua...

VÌ SAO UỐNG KHÁNG SINH GÂY GIẢM VỊ GIÁC?



CÂU HỎI:Thỉnh thoảng tôi phải uống kháng sinh, không hiểu sao thuốc lại gây giảm vị giác và rất đắng miệng?


TRẢ LỜI:Có nhiều loại kháng sinh khi sử dụng có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng vị giác bằng các cơ chế khác nhau. Ví dụ như khi dùng liên tục và kéo dài, một số kháng sinh có thể làm thay đổi hệ vi khuẩn bình thường ở niêm mạc miệng, dạ dày và ruột dẫn đến các rối loạn vị giác và nhiễm khuẩn ở vùng răng miệng. Một số kháng sinh có thể gây ra vị đắng, chua hoặc vị kim loại ở trong miệng, một số khác có thể gây rối loạn cảm nhận với một số loại muối như aciclovir, ampicillin, ethambutol, pentamidine và sulfamethoxazole làm giảm cảm nhận với muối calcium chloride, ethambutol, tetracycline và pentamidine làm giảm cảm nhận với muối kali chloride, ampicillin và pentamidine làm giảm cảm nhận với muối natri chloride. Cách uống kháng sinh cũng có thể ảnh hưởng đến mức độ gây rối loạn vị giác của thuốc. Do các kháng sinh tan nhanh hơn trong môi trường axit và vị đắng của chúng thường không được trung hòa bởi các chất gây ngọt nên kháng sinh thường sẽ gây vị đắng trong miệng nhiều hơn nếu được uống cùng với các thức ăn hoặc đồ uống có môi trường axit so với khi được uống cùng nước.

KHÔNG ĂN RAU NGÓT SỐNG KHI MANG THAI.



Tôi đang mang thai được 14 tuần, tôi rất thích ăn canh rau ngót nhưng tôi nghe nhiều người nói bà bầu ăn rau ngót rất dễ gây sảy thai. Xin quý báo cho biết, điều này có đúng không?

Rau ngót là một thực phẩm giàu dưỡng chất, rất bổ ích cho mọi người, đặc biệt là đối với phụ nữ. Tuy nhiên, đối với phụ nữ mang thai thì các món ăn từ rau ngót lại được cảnh báo nguy hiểm nếu sử dụng nhiều.
Cho đến nay những nghiên cứu khoa học chưa có nghiên cứu nào chỉ ra tác hại của rau ngót với thai kỳ. Tuy nhiên, trong rau ngót tươi có chứa hàm lượng papaverin cao gây hiện tượng co thắt cơ trơn tử cung, khiến chị em rất dễ sảy thai. Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ sau đẻ, sau sảy, sau nạo chữa sót rau nhau bằng cách: lá rau ngót 40g, rửa sạch giã nát. Thêm một ít nước đun sôi để nguội. Vắt lấy chừng 100ml nước. Chia làm hai lần uống, mỗi lần cách nhau 10 phút. Sau chừng 15 - 20 phút nhau sẽ ra.
Chính vì vậy thai phụ, đặc biệt là với những thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp, đẻ non, thụ tinh trong ống nghiệm nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.
Phụ nữ mang thai bình thường thỉnh thoảng vẫn có thể ăn một ít rau ngót luộc hay nấu canh. Tuy nhiên phải chọn những loại rau ngót sạch, tươi để tránh ngộ độc thực phẩm. Khi nấu phải đun sôi, nấu kỹ để đảm bảo an toàn.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

SỐT CAO CO GIẬT Ở TRẺ EM VÀ CÁCH XỬ TRÍ.



Co giật do sốt cao là hiện tượng chỉ xảy ra khi nhiệt độ cơ thể (thân nhiệt) tăng lên rất nhanh và trong một khoảng thời gian ngắn, thường gặp ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi có sốt cao đột ngột lại không được uống nước đầy đủ hoặc mặc quá nhiều áo, ở trong môi trường ngột ngạt, không thoáng khí và thông gió. Hiện tượng co giật rất có hại cho cơ thể và bộ não của trẻ do thiếu ôxy não, nhất là nếu cơn co giật kéo dài và tái đi tái lại nhiều lần. Trong cơn co giật trẻ thường nôn mửa, nếu người lớn không có cách xử trí đúng và kịp thời sơ cứu thì trẻ có thể tử vong do tắc thở vì ngạt, vì hít phải chất nôn hoặc bị viêm phổi nặng do chất nôn từ dạ dày trào ngược vào phổi gây tổn thương phổi.





Phát hiện cơn co giật do sốt cao





Nên nghĩ ngay đến co giật do sốt cao khi gặp những trường hợp sau: cơn giật xuất hiện ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi; cơn giật xuất hiện khi trẻ đang sốt cao, thân nhiệt trên 390C. Nếu thân nhiệt hạ thấp hơn 390C thì sẽ hết giật; cơn giật có tính chất lan toả toàn thân (2 tay, 2 chân, mình và đầu), thời gian co giật ngắn dưới 10 phút; sau cơn co giật, trẻ ngủ. Nếu đánh thức thì trẻ tỉnh dậy ngay chứ không rơi vào tình trạng li bì, mê man, hôn mê, gọi hỏi không biết.








Thường xuyên kiểm tra thân nhiệt cho trẻ


Nhanh chóng tạo không khí thoáng mát, đặt trẻ nằm xuống giường hoặc phản, nơi bằng phẳng để đề phòng khi co giật, trẻ có thể bị ngã hoặc va đập vào vật cứng. Tốt nhất nên cởi bỏ hết quần áo cho trẻ, nếu không được thì nên nới rộng quần áo, nhất là vùng cổ, dùng khăn mềm nhúng vào nước hơi ấm, lau khắp người cho trẻ, nhất là vùng nách, bẹn, trán. Lau đi lau lại nhiều lần như thế cho đến khi trẻ hết giật. Vì trẻ co giật không thể uống thuốc được nên cần nhanh chóng đặt thuốc hạ nhiệt đường hậu môn (viên đạn đặt hậu môn: trẻ em dưới 2 tuổi dùng viên paracetamol 80mg, trẻ lớn dùng viên 150mg). Đợi khi trẻ ngừng cơn giật thì lật trẻ nằm nghiêng sang 1 bên ngay, đầu đặt ở vị trí an toàn, hơi ngửa tránh việc trào ngược dịch nôn trớ của trẻ vào phổi gây nguy hiểm đến tính mạng. Đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và điều trị tránh co giật tái phát do sốt cao trở lại.





Một số điều cần tránh khi trẻ đang sốt cao co giật






không nên tìm cách chống lại cơn co giật của trẻ bằng cách ghì trẻ thật chặt vì có thể gây tổn thương ở một số bộ phận cơ thể hoặc có thể làm gãy xương trẻ. Không được cho trẻ ăn, uống bất cứ thứ gì vì có thể gây sặc cho trẻ. Không được dùng vật cứng để gang mồm trẻ vì sợ trẻ cắn vào lưỡi bởi rất ít khi trẻ cắn vào lưỡi trong cơn co giật. Mà cũng không nguy hiểm bằng việc gang vật cứng vào miệng trẻ làm tổn thương niêm mạc miệng, làm gãy răng, sứt lợi trẻ. Không ủ ấm, mặc thêm quần áo cho trẻ mặc dù trong cơn sốt cao trẻ có thể bị rét run mà phải tìm cách hạ nhiệt nhanh chóng bằng cách làm mát cơ thể và môi trường xung quanh. Đó là biện pháp tốt nhất và an toàn nhất để phòng chống và cắt cơn co giật cho trẻ.





Phòng cơn co giật do sốt cao

Cơn co giật do sốt cao ở trẻ nếu đã xảy ra thì rất hay tái phát. Điều này gây hoang mang cho rất nhiều bậc cha mẹ, đồng thời cũng gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ. Nếu biết cách xử trí ngay từ lúc trẻ mới sốt, chúng ta có thể phòng tránh được cơn co giật: đưa trẻ đi khám và điều trị nguyên nhân ngay khi mới sốt, cho trẻ uống nhiều nước hoặc bú nhiều lần hơn, cởi bớt quần áo, đặt trẻ nằm nơi thoáng mát và không bao giờ được ủ ấm hoặc bọc kín trẻ, phải thường xuyên theo dõi thân nhiệt bằng cách cặp nhiệt độ cho trẻ khi trẻ sốt cao. Làm mát cơ thể trẻ bằng cách lau người cho trẻ bằng nước ấm và dùng thuốc hạ nhiệt khi nhiệt độ cơ thể lên quá 390C.




NGHIỆN THUỐC:CHUYỆN KHÔNG NHỎ.



KỲ III: Lờn thuốc là dấu hiệu của “nghiện thuốc”?





Cơ thể do dùng một thứ thuốc lặp đi lặp lại nhiều lần nếu dùng liều lượng cũ sẽ thấy thuốc không có tác dụng và phải tăng liều lượng mới thấy thuốc có “ép phê”. Đó là tình trạng “lờn thuốc”.





Có lần, một vị cao tuổi đến tìm tôi để hỏi ý kiến xem có thể tự sử dụng một loại thuốc an thần gây ngủ khá thông dụng là SEDUXEN để chữa chứng mất ngủ. Tôi vội vàng trình bày tác hại của việc người bệnh tự ý dùng bừa bãi thuốc loại này, trong đó có tác hại rất nghiêm trọng là thuốc làm cho bị nghiện. Người đã bị nghiện sẽ phải tiếp tục dùng thuốc, không bỏ được thuốc và bị “dung nạp thuốc”. Tôi thấy mình hớ vì ông cụ không hiểu “dung nạp thuốc” là gì, vì vậy, tôi dùng lời lẽ đời thường hơn để giải thích với cụ. Khi ấy, cụ đã buột miệng: “A, ý của dược sĩ muốn nó tới “lờn thuốc” ấy mà !”.








Nên sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ





Lờn thuốc là từ mà nhiều bà con ta thường sử dụng để chỉ tình trạng cơ thể do dùng một thứ thuốc lặp đi lặp lại nhiều lần, nếu dùng liều lượng cũ sẽ thấy thuốc không có tác dụng và phải tăng liều lượng mới thấy có “ép phê”. Lờn thuốc trong trường hợp này, về chuyên môn, gọi là “dung nạp thuốc” hay “quen thuốc” (drug tolerance), được định nghĩa là “tình trạng giảm sự đáp ứng đối với thuốc sau khi sử dụng thuốc lặp đi lặp lại nhiều lần, cần phải tăng liều mới thấy có tác dụng như lúc ban đầu”. Lờn thuốc thường gặp ở thuốc gây nghiện, như thuốc an thần gây ngủ diazepam ban đầu dùng liều 5 - 10mg là có tác dụng gây ngủ nhưng dùng lâu dài bị lờn thuốc có thể dùng đến 1.000mg trong ngày vẫn không hề hấn gì, mắt cứ trơ ra không ngủ được. Không chỉ đối với thuốc còn có một số chất con người quen dùng trong sinh hoạt hàng ngày cũng gây ra tình trạng “lờn” này. Thí dụ như rượu, có nhiều người lúc đầu chỉ uống nửa ly bia là mặt đỏ bừng, xây xẩm mặt mày, thế mà chỉ trong thời gian sau, nếu ngày nào cũng “lai rai vài sợi”, sẽ uống tới vài xị rượu đế như chơi và không thấy hề hấn gì, chỉ thấy “thế mới đã!”. Ngay với một số thuốc thông thường như các thuốc trị đau nhức (paracetamol), đau thấp khớp (nhóm thuốc NSAID như diclfenac…), có nhiều người quen dùng cứ thấy hiệu quả của thuốc giảm dần theo thời gian. Có thể giải thích lờn thuốc như sau: khi thuốc được đưa vào trong cơ thể, nó chỉ cho tác dụng khi gắn vào nơi tiếp nhận gọi là thụ thể. Khi cơ thể quen dùng một thứ thuốc, các nơi tiếp nhận là thụ thể này sẽ thay đổi bản chất hoặc gia tăng số lượng đưa đến phải gia tăng nồng độ thuốc trong cơ thể (tức phải gia tăng liều dùng) mới đáp ứng và cho tác dụng. Để đối phó với lờn thuốc này, chỉ có cách là tăng liều nhưng không thể tăng liều mãi vì sẽ đưa đến LIỀU ĐỘC. Đối với thuốc có khả năng bị lờn theo kiểu này, thầy thuốc sẽ cho dùng với liều và thời gian dùng như thế nào đó để phòng lờn thuốc. Hoặc khi đã thuốc đã lờn, bắt buộc phải thay thuốc khác. Trong lĩnh vực dược, người ta phải luôn luôn tìm ra thuốc mới, một phần để thay thế thuốc cũ bị lờn là vì thế.






Như vậy, lờn thuốc đúng là một dấu hiệu của nghiện thuốc. Khi bị lờn thuốc gây nghiện sẽ đưa đến tình trạng lạm dụng thuốc. Lạm dụng thuốc trong điều trị là người bệnh do lờn tự ý dùng thuốc quá liều lượng, như dùng 50mg là liều quá cao của diazepam (liều an thần gây ngủ thông thường là 5mg) nhưng vẫn nhằm vào tác dụng gây ngủ.





Lời khuyên của thầy thuốc





Đối với người dùng thuốc, để hạn chế cả hai sự lờn thuốc, lờn thuốc gây nghiện và lờn thuốc kháng sinh, chỉ có cách là sử dụng thuốc khi thật cần thiết, theo sự hướng dẫn của thầy thuốc, không lạm dụng và không sử dụng thuốc bừa bãi.





Lưu ý, lờn thuốc có thể hiểu theo ý khác không gắn liền với nghiện thuốc. Như có lần, một bạn trẻ đã tìm đến tôi để hỏi ý kiến xem sau khi lén lút đi “giải quyết sinh lý”, nghi ngờ bị mắc bệnh, có thể đến nhà thuốc mua loại thuốc kháng sinh “xịn” nhất về dùng để tự chữa bệnh. Tôi vội vàng giải thích, đại khái: “Hiện nay ở ta đang có tình trạng rất đáng lo ngại là có một số người bị các bệnh lây qua đường tình dục (trước đây gọi là bệnh hoa liễu như giang mai, lậu, mồng gà, hột xoài…) nhưng không chịu đến bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán, hướng dẫn điều trị mà lại nghe mách bảo tìm mua loại kháng sinh mới nhất như các loại kháng sinh cephalosporin thế hệ 3, 4, hoặc các fluoroquinolon thế hệ 2, 3… để tự chữa bệnh, làm như thế không chỉ hại cho bản thân bởi vì dùng thuốc không đúng bệnh sẽ nặng thêm mà còn vô tình có thể làm hại cho cộng đồng. Những thuốc kháng sinh mới nhất được khuyến cáo chỉ dùng trong bệnh viện khi được bác sĩ điều trị chỉ định, hướng dẫn và theo dõi sử dụng, vì đó là thuốc rất quý có tính dự trữ, nếu sử dụng bừa bãi chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ bị “đề kháng”. Lúc đầu nghe tôi nói, anh bạn trẻ có vẻ hiểu nhưng sau có vẻ ngơ ngẩn với hai chữ “đề kháng”. Tôi đã có dùng chữ văn vẻ nôm na hơn để giải thích cho anh bạn trẻ thế nào là kháng sinh bị “đề kháng”. Anh bạn trẻ sau khi nghe buột miệng “A, ý thầy muốn nói lờn thuốc!” .





Đối với việc sử dụng thuốc là kháng sinh, “lờn thuốc” phải hiểu theo nghĩa khác. Lờn thuốc ở đây có nghĩa là vi khuẩn gây bệnh không còn nhạy cảm, có khả năng chống lại tác dụng của thuốc để đưa đến hậu quả là kháng sinh mà người bệnh sử dụng không mảy may gây hại đối với vi khuẩn. “Lờn thuốc” ở đây là sự rút gọn của “vi khuẩn lờn thuốc kháng sinh”. Thiết nghĩ, ta cũng nên biết qua vi khuẩn lờn thuốc kháng sinh như thế nào để hiểu vì sao có lời khuyên phải dùng kháng sinh ĐÚNG THUỐC, ĐÚNG LIỀU VÀ ĐỦ THỜI GIAN. Khi bị kháng sinh tấn công và nhất là liều kháng sinh ta dùng không đủ mạnh để tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của chúng, vi khuẩn cũng biết cách “thiên biến vạn hóa” để tồn tại. Thí dụ, chúng sẽ biến đổi thàng dạng “chai lì” có thể chịu đựng tác dụng kháng sinh mà không chết. Và còn nhiều cách đề kháng khác nữa, nhưng dù vi khuẩn có lẩn tránh, đề kháng khéo léo đến đâu, các nhà y dược học cũng không bó tay chịu thua. Thí dụ, như trong điều trị, ngay từ đầu phải dùng loại kháng sinh có tác dụng (nên lưu ý có kháng sinh có tác dụng hiệu quả đối với loại vi khuẩn này nhưng không hiệu quả đối với loại vi khuẩn khác) tức phải dùng đúng thuốc. Ngay từ đầu phải sử dụng ngay liều tấn công tức là liều mạnh để vi khuẩn bị tiêu diệt ngay không kịp tồn tại dưới dạng chai lì. Sau đó, duy trì liều có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị, bằng cách dùng nhiều lần thuốc trong ngày và dùng trong nhiều ngày. Vấn đề “lờn thuốc kháng sinh” đang là vấn nạn gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Trong chữa trị bệnh lao ở nước ta hiện nay đang phải đối phó với “lao đa kháng thuốc” (tức bệnh lao mà vi khuẩn đã đề kháng với nhiều thuốc chống lao thuộc hàng đầu trong công tác chữa trị) và “lao siêu kháng thuốc” (tức bệnh lao mà vi khuẩn đã đề kháng với không chỉ các thuốc thuộc loại hàng đầu mà cả với thuốc dự trữ hạng 2).




DỊ ỨNG THUỐC



Thuốc là con dao hai lưỡi, có thể cứu người đồng thời có thể gây tác hại không lường, đặc biệt khi sử dụng tuỳ tiện, thiếu thận trọng không đúng bệnh, không theo hướng dẫn của thày thuốc.





Một tai biến thường gặp





Ngoài những tác dụng phụ, những ảnh hưởng xấu ở mức độ khác nhau đối với nội tạng, nội tiết, ngũ quan, thần kinh, chuyển hoá, miễn dịch, di truyền... tác hại thường gặp và đáng sợ nhất là tai biến dị ứng còn gọi là nhiễm độc dị ứng thuốc.





Tai biến dị ứng thuốc ngày càng trở nên phổ biến trở thành mối lo lắng cho các thầy thuốc ở mọi chuyên khoa. Có nhiều nguyên nhân nhưng điều rõ ràng là các hoá chất sử dụng trong dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm ngày càng nhiều. Thuốc sẵn nhưng người dân lại không được trang bị kiến thức về y dược một cách cặn kẽ, người bệnh tự động dùng thuốc đã làm tăng tình trạng cảm ứng tạo tiền đề cho dị ứng thuốc.








Thuốc nào cũng có thể gây dị ứng.



Nhiều loại thuốc khi mới ra đời thấy mặt lợi về tác dụng điều trị nhưng với thời gian sau ngày càng bộc lộ tiềm năng độc hại. Điển hình là penicilin, ban đầu người ta không ngớt lời ca tụng về tác dụng diệt khuẩn của nó nhưng ngày nay penicilin trở thành một trong những thứ thuốc hay gây dị ứng nhất.





Danh mục các thuốc có tiềm năng gây dị ứng ngày càng mở rộng. Thông thường nhất là: thuốc kháng sinh (penicilin, streptomycin, chlorocid, sulfamid), thuốc hạ nhiệt, giảm đau (aspirin, pyramidon, paracetamol, butadion), thuốc an thần, gây ngủ, gây tê (luminal, gardenal, novocain), thuốc chữa phong, lao, sốt rét (rimifon, DDS, nivakin), dẫn xuất iod, brôm. Ngay cả nhiều loại thuốc bổ, vitamin, kể cả thuốc bổ Đông y với người có cơ địa dị ứng cũng có thể gây tai biến dị ứng, nhiễm độc...





Tiêm, uống, bôi, xông nhỏ... ở dạng nào thuốc cũng có thể gây dị ứng, nhưng nhanh nhất và nguy hiểm nhất vẫn là đường tiêm tĩnh mạch. Nhiều bệnh nhân, nhất là nữ, mách nhau tiêm vitamin C tĩnh mạch cho “mát da” để chữa nám má, trứng cá. Thực là nguy hiểm, thực tế đã xảy ra những tai biến dẫn đến tử vong.






Triệu trứng dị ứng rất đa dạng, sớm hoặc muộn, cục bộ hoặc toàn thân, mức độ và tiên lượng khác nhau. Nếu do thuốc bôi ngoài da thì gọi là viêm da dị ứng. Tại chỗ nổi ban đỏ mụn nước, ngứa, bệnh nhân gãi nhiều, bị trợt da dễ thành nhiễm khuẩn thứ phát hoặc nổi ban dị ứng rải rác nhiều nơi trên cơ thể. Nếu nhỏ, uống, xông hoặc tiêm thuốc, triệu trứng thường nặng và toàn thân biểu hiện rõ. Thường chia thành hai loại là phản ứng sớm (tức thì) và phản ứng muộn (trì hoãn).





Phản ứng sớm xảy ra chỉ vài phút hoặc vài giờ sau khi thuốc vào cơ thể. Biểu hiện thành một hội chứng choáng gọi là choáng phản vệ. Bệnh nhân vật vã, khó thở, tái tím, toát mồ hôi, lạnh, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ dần. Nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn tới tử vong trong bệnh cảnh truỵ tim mạch. Tai biến này thường gặp ở người có cơ địa dị ứng rõ (hen, mày đay, eczema) khi tiêm pennicilin, sirepa, vitamin B1, novocain, nhất là tiêm tĩnh mạch. Vì vậy đối với người đã có sẵn bệnh dị ứng, việc dùng thuốc bất cứ ở dạng nào cũng cần rất thận trọng.





Phản ứng muộn xảy ra sau vài ngày hoặc lâu hơn. Biểu hiện ngoài da khá rõ, nhưng rất đa dạng, cần có thầy thuốc chuyên khoa mới chẩn đoán được sớm và chính xác (nhiều khi bệnh nhân cho là rôm sảy, hoặc nhiệt). Có khi nổi thành ban đỏ lấm tấm giống như sởi, rải rác khắp người, ngứa sau đó róc vảy da nhẹ hoặc thành sẩn nề ngứa kiểu mày đay, hoặc thành ban đỏ phỏng nước sau đó nhiễm sắc. Nặng nhất trong loại này là hội chứng Lyell, gây đỏ da, róc da, phỏng nước, sau đó loét trợt rộng, rải rác nhiều nổi trên cơ thể, kể cả niêm mạc miệng họng, hậu môn và thường kèm theo sốt cao, mê sảng, tổn thương hầu hết các nội tạng và ngũ quan (viêm gan, thận, phổi, cơ tim, mạch máu, tai mũi họng, mắt...) tỷ lệ tử vong cao. Nếu có sống sót cũng phải qua một quá trình điều trị, săn sóc hộ lý lâu dài, vất vả.





Hạn chế cách nào?





Như vậy dị ứng thuốc là một tai biến, nhiều khi rất nguy hiểm, gây tổn thương ở hầu hết các cơ quan, từ ngoài da đến nội tạng. Cấp cứu và điều trị nhiều khi rất phức tạp, kéo dài, tỷ lệ tử vong không phải ít, nhất là đối với các phản ứng tức thì mà bệnh nhân ở xa cơ sở y tế. Dự phòng dị ứng thuốc không phải dễ, nhiều khi ngay cả bản thân thày thuốc cũng không thể lường trước được phản ứng của từng bệnh nhân đối với một loại thuốc nào đó. Cụ thể có trường hợp đã làm phản ứng da với penicilin trước khi tiêm thấy âm tính nhưng khi tiêm vào bệnh nhân vẫn bị choáng. Dù sao nắm vững kiến thức và biện pháp dự phòng vẫn là điều cần thiết, chắc chắn sẽ giúp ta hạn chế được nhiều tai biến đáng lẽ không xảy ra.





Trước hết cần có quan niệm đúng về thuốc, dù thuốc có quý và đắt tiền bao nhiêu thì thuốc vẫn là chất ngoại lai, chất lạ bắt cơ thể phải chọn lọc, chuyển hoá, hấp thu, đào thải. Một số thuốc gây tác dụng phụ ở mức độ khác nhau, một số khác có thể trở thành kháng nguyên gây cảm ứng, tạo tiền đề cho dị ứng khi bệnh nhân dùng lại thuốc đó. Vì vậy khi thật cần thiết hãy nên dùng. Chẳng hạn, viêm họng, cảm cúm nhẹ chỉ cần xông hoặc xúc miệng nước muối cũng có thể khỏi không nhất thiết phải dùng kháng sinh. Hiện nay đông y cũng đã có nhiều biện pháp điều trị dự phòng không phải dùng thuốc như: xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, dưỡng sinh. Những kinh nghiệm và thành tựu quý báu này của y học cổ truyền nên được thừa kế, phát huy, kết hợp với y học hiện đại. Mặt khác nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận các dược phẩm lấy từ cây cỏ ít gây tai biến hơn là các hoá chất (tất nhiên phải do các thầy thuốc chỉ định và sử dụng). Khi đã dùng thuốc phải tuân thủ nghiêm chỉnh hướng dẫn của thày thuốc về liều lượng, thời gian dùng, uống mấy lần trong ngày, trước hoặc sau bữa ăn, kiêng kỵ ra sao... không thể tuỳ tiện. Đối với một số thuốc, nhất là đối với bệnh nhân có cơ địa dị ứng lại càng phải có qui định chặt chẽ. Thử phản ứng da trước khi tiêm, định kỳ kiểm tra máu, chức năng gan thận, nhằm phát hiện sớm những biến đổi bệnh lý có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng phải biết tự phát hiện những biểu hiện sớm của dị ứng: mệt mỏi, khó chịu, nôn nao, nổi ban ngứa, gây sốt, nổi hạch... để báo cho thầy thuốc kịp thời ngừng thuốc và xử trí. Nếu đã có một lần dị ứng thuốc phải ghi rõ vào hồ sơ sức khoẻ để sau này thày thuốc và bệnh nhân tuyệt đối không dùng lại thuốc đó vì phản ứng dị ứng càng về sau càng nặng.





Trên cương vị thầy thuốc mỗi khi khám bệnh kê đơn cần tự xác định trách nhiệm cao cả của mình, phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ, cân nhắc đối với từng bệnh nhân, từng loại thuốc, không nên vì lợi nhuận mà phẩy tay kê nhiều loại thuốc không thật cần thiết, thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ thử phản ứng, theo dõi định kỳ đã qui định. Chú ý lắng nghe những than phiền của bệnh nhân để có biện pháp xử trí kịp thời thích hợp.





Với tinh thần khoa học, nghiêm chỉnh, thận trọng của thầy thuốc cũng như của bệnh nhân nhất định chúng ta sẽ giảm được tác dụng phụ, nhất là tai biến dị ứng của thuốc.






Mỹ phẩm là “thủ phạm” gây ra dị ứng làn da.

HẠ SỐT ĐÂU CÓ DỄ.



Bà Thảo bị đau đầu, sổ mũi, rát họng và ho khan từ mấy hôm nay. Nghĩ mình bị cảm cúm thông thường do thời tiết nên bà không đi khám bệnh mà chỉ nhỏ mũi và súc họng bằng nước muối. Rồi hôm ấy bà thấy ớn lạnh và cơn sốt đùng đùng kéo đến. Đến tối, bà sốt tới 39,2oC nên lôi thuốc efferalgan codein 500mg ra uống. Sau khoảng 10 phút uống thuốc, bà Thảo thấy dễ chịu vì bớt đau đầu và hạ sốt, mồ hôi bắt đầu rịn ra... Nhưng dễ chịu chẳng được bao lâu thì bà lên cơn khó thở.








Ảnh minh họa


Lúc này cả nhà mới tá hỏa đưa bà đi cấp cứu. Sau khi cơn nguy kịch qua đi, bà và người thân được bác sĩ giải thích rằng bà bị lên cơn co thắt phế quản cấp tính do dùng thuốc giảm đau hạ sốt có chứa codein.





Chả là bà Thảo vốn có tiền sử bị hen phế quản, phải thường xuyên điều trị. Dù bà đã cắt được cơn hen từ nhiều tháng nay nhưng bà và người thân trong gia đình lại không biết rằng bệnh hen của bà không được dùng thuốc có chứa codein, do các loại thuốc này gây co thắt phế quản...





Bác sĩ giải thích: dùng thuốc cho người già là rất phức tạp bởi sức khỏe và thể trạng của người già rất nhạy cảm với thuốc. Hơn nữa, các cụ hay mắc các bệnh mạn tính khác nên việc dùng thuốc lại càng phải thận trọng, phải xem xét tới các yếu tố như phản ứng chéo của thuốc; chống chỉ định... Vì thế, bao giờ bác sĩ cũng phải xem xét tiền sử bệnh rồi mới khám và làm các xét nghiệm đầy đủ cho các cụ trước khi kê đơn thuốc.

ASPIRIN VÀ CÁC TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN.



Do không tìm hiểu thật kỹ, nhiều người bệnh vẫn không biết đủ và rõ những tác dụng không mong muốn của aspirin dẫn đến dùng sai.





Cơ chế tạo nên hiệu lực và tác dụng không mong muốn của aspirin





Cơ thể sinh tổng hợp các prostaglandin để điều hòa một số hoạt động của có thể. Hiện đã biết được khoảng 20 loại prostagandin có tác dụng khác nhau.





- Aspirin ức chế cyclooxydase 2 (COX2) nên làm giảm sinh tổng hợp một số prostaglandin, dẫn đến các hiệu lực chữa bệnh như:





- Làm vững bền màng lysosom trong quá trình thực bào; ức chế các chất trung gian hóa học gây viêm như các kinin huyết tương; ức chế cơ chất của enzyme, ức chế sự di chuyển bạch cầu, ức chế phản ứng kháng nguyên - kháng thể; tăng steroid (do có gốc salicylic) nên có tác dụng chống viêm.





- Làm giảm tính cảm thụ của các ngọn dây thần kinh cảm giác với các chất gây đau của các phản ứng viêm như bradykinin, histamin, serotonin nên có tác dụng giảm đau.





- Làm giảm quá trình tạo nhiệt (giảm rung cơ, tăng hô hấp, tăng chuyển hóa), tăng thải nhiệt (giãn mạch da, tăng tiết mồ hôi), aspirin ức chế prostaglandin E2 mạnh hơn cả nên tính hạ sốt cũng vượt xa các kháng viêm không steroid (NAIDs) khác.





Aspirin ức chế cyclooxydase 1 (COX1), ức chế sinh tổng hợp một số loại prostaglandin khác, dẫn đến:





- Làm giảm tiết các chất bảo vệ (chất keo, natri bicarbonat), tăng tiết dịch vị gây viêm loét dạ dày tá tràng; giảm máu đến dạ dày nên khó hồi phục tổn thương này.





Các NSAIDs ức chế COX1 với các mức khác nhau trong đó aspirin thuộc loại mạnh nên cũng có nhiều tác dụng không mong muốn (TDKMM) hơn so với NSAIDs khác.








Aspirin ức chế cyclooxydase 2 (COX2



Những tác dụng không mong muốn căn bản của aspirin





Với đường tiêu hóa:





Aspirin là một acid gây xót và cồn cào khi uống, nhất là uống khi đói, aspirin ức chế COX1 làm giảm tiết các chất bảo vệ (chất keo, natri bicarbonat), làm tăng tính acid aspirin gây bào mòn dạ đày, hủy hoại tế bào biểu mô ở dạ dày tá tràng, đường ruột nói chung.





Loại aspirin pH8 không tan trong dạ dày mà chỉ tan ở ruột nên làm giảm được tác dụng phụ do tính acid của aspirin trực tiếp gây ra, nên có thể uống cả lúc no lẫn lúc đói. Tuy nhiên, trong hai cơ chế gây hại dạ dày thì cơ chế ức chế COX1 là chính và aspirin pH8 không làm giảm TDKMM gây ra theo cơ chế này, nên vẫn gây hại dạ dày; những người thuộc diện đang bị hoặc có tiền sử bị viêm loét dạ dày tá tràng, đường ruột thì không được dùng aspirin kể cả aspirin pH8.





Các TDKMM trên đường ruột còn xảy cả với người bình thường nếu dùng kéo dài (lúc đầu chỉ bị viêm vi thể, chỉ phát hiện được bằng nội soi, về sau có biểu hiện lâm sàng rõ nặng lên). Do vậy, người bình thường được dùng aspirin nhưng lại không được tùy tiện (chỉ dùng khi cần thiết, không dùng kéo dài).






Với huyết áp: aspirin ức chế COX1 làm giảm prostaglandin-I2, tăng giải phóng renin, gây tăng huyết áp khi dùng kéo dài, dẫn tới nguy cơ đột quỵ xuất huyết não, đặc biệt hay xảy ra ở người tăng lipid máu, xơ vữa động mạch, tuổi mãn kinh, cao tuổi... với tỉ lệ 1/350. Cao huyết áp vô căn thường có ở người lớn tuổi. Do yếu tố nguy cơ nào đó (như béo phì) trẻ cũng có thể bị cao huyết áp (gọi là trẻ bị bệnh của người lớn). TDKMM này sẽ gây hại cho các trẻ này. Aspirin tương tác với thuốc hạ huyết áp. Ví dụ: thuốc ức chế men chuyển làm tăng prostaglandin gây giãn mạch, hạ huyết áp trong khi aspirin đó làm giảm prostaglandin nên giảm hiệu lực hạ huyết áp của ức chế men chuyển.





Với thận: aspirin ức chế COX1, làm giảm prostaglandin-I2 ở thận, giảm lưu lượng máu nuôi thận, giảm độ lọc cầu thận, giải phóng renin, gây rối loạn nước - điện giải, rối loạn chức năng tiểu cầu thận, viêm thận mô kẽ, hoại tử nhú thận, suy thận cấp, tăng K+ máu. TDKMM này xảy ra ngay với người lớn dùng kéo dài; càng dễ xảy ra hơn với trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ tuổi (do chức năng lọc của cầu thận và thải trừ thuốc qua ống thận kém), với người già người suy chức năng thận (vì các chức năng này bị giảm sút).









Lời khuyên của thầy thuốc





Trường hợp dùng aspirin ngừa đông máu thì phải tuân thủ liều lượng, phải định kỳ kiểm tra chỉ số INR (chỉ số này cho biết nguy cơ đông máu chảy máu, thầy thuốc dựa vào đó để chỉnh liều nếu cần). Người bị đột quỵ do tắc mạch máu não bởi cục máu đông thì thầy thuốc cho dùng aspirin để ngăn sự tái hình thành cục máu đông, nhưng người bị đột quỵ do vỡ mạch máu não bởi cao huyết áp lại không dược dùng aspirin vì sẽ làm tăng sự chảymáu. Khi dùng cho bệnh tim mạch, tuy liều thấp hơn (81mg/ngày) so với liều dùng giảm đau chống viêm hạ sốt (500 - 1.000mg/ngày) nhưng phải dùng theo đơn của thầy thuốc.





Aspirin là thứ thuốc bán không cần đơn (OTC), không có nghĩa là thuốc đó là hoàn toàn vô hại, nếu không biết đủ và rõ các TDKMM thì nên hỏi bác sĩ, dược sĩ trước khi mua dùng.





Với dị ứng: trẻ hay bị dị ứng và khả nặng chống đỡ lại thấp. Aspirin thường gây dị ứng cho trẻ, có khi nhẹ (nổi mày đay, ban xuất huyết) nhưng có khi rất nặng (sốc phản vệ).





Với hô hấp: aspirin gây ảnh hưởng xấu đến hệ hô hấp (làm khó thở, suy giảm hô hấp); gây co thắt phế quản, làm nặng thêm bệnh hen, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính.





Với mắt: với người cao tuổi, aspirin tạo ra các tân mạch ở võng mạc, tân mạch này sau đó bị vỡ ra, gây xuất huyết, giảm thị lực (bệnh thoái hóa hoàng điểm ẩm).





Với hệ máu: thromboxan-A2 làm tăng sự co mạch, tăng tập kết tiểu cầu; prostacyclin ngăn ngừa giãn mạch, giảm tập kết tiểu cầu. Bình thường, prostacyclin - thromboxan-A2 ở thế cân bằng động. Người bị bệnh tim mạch, thromboxabA2 tăng cao, cân bằng này bị rối loạn, dễ hình thành huyết khối. Aspirin liều thấp (<1g) ức chế COX1, làm giảm thromboxan-A2, nên được dùng ngăn sự hình thành huyết khối, phòng tai biến tim mạch thứ cấp. Tuy nhiên, người chưa từng bị bệnh, chưa từng bị tai biến tim mạch thì hệ cân bằng động prostacyclin - thromboxan-A2 vốn ổn định; dùng aspirin không có lợi mà làm giảm thromboxan-A2 gây rối loạn hệ này. TDKMM này xảy ra ngay khi dùng ở liều thấp, nếu dùng liều cao hơn và/ hoặc kéo dài thì còn có thể gây ra các TDKMM khác trên dạ dày tá tràng, huyết áp, thận, mắt (như nói trên). Do đó, không dùng aspirin phòng bệnh tim mạch tiên phát.





Do chống tập kết tiểu cầu, kháng đông nên aspirin làm giảm sự vững bền mao mạch, gây ra hoặc kéo dài sự chảy máu ở người đang hay có nguy cơ chảy máu (tổn thương, ban xuất huyết dưới da, sốt xuất huyết, phẫu thuật, sinh đẻ).






Với gan và não (hội chứng Reye): người dưới 19 tuổi, khi bị nhiễm virút (cúm influenza type B, thủy đậu, coxsakie virus, echovirus) mà dùng aspirin (hay salicylat) thì aspirin sẽ thúc đẩy hình thành hội chứng Reye. Đây là bệnh lý não - gan hiếm gặp, với biểu hiện phù não (song không thâm nhiễm tế bào), thoái hóa tế bào thần kinh não; suy gan nhiễm mỡ tiến triển nhanh, gan to (song rất ít hay không vàng da) chứa đầy các không bào chứa mỡ; được mô tả gọn là “nước não và mỡ gan” . Nếu cứu chữa không kịp thời sẽ tử vong sau vài giờ, nếu kịp thời thì có thể hồi phục song để lại khuyết tật nhẹ hay di chứng não nặng.





Với thai phụ: dùng 3 tháng đầu thai kỳ, aspirin có tiềm năng gây quái thai. Dùng ở 3 tháng cuối do aspirin làm giảm prostaglandin-E,F (chất có vai trò làm tăng co bóp tử cung) nên làm giảm co bóp tử cung tăng thời gian mang thai. Ngoài ra, aspirin do làm giảm prostanglandin I2 nên làm đóng sớm ống động mạch của thai nhi dẫn tới tăng huyết áp động mạch phổi gây nguy cơ suy hô hấp tuần hoàn ở trẻ sơ sinh. Tính gây chảy máu của aspirin cũng sẽ làm tăng sự chảy máu lúc sinh đẻ.





Người bệnh cần lưu ý gì khi dùng aspirin?





Các trường hợp không được dùng aspirin:





- Đang bị hay có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đường ruột nói chung.





- Đang có nguy cơ chảy máu (tổn thương, ban xuất huyết duới da, sốt xuất huyết, phẫu thuật, sinh đẻ) hay đang dùng thuốc kháng đông(như coumarin, clopidrogel…).





- Đang có bệnh về hô hấp hay đang ở trong tình trạng suy hô hấp.





- Có tiền sử hay đang bị viêm thận, suy gan, cao huyết áp.





- Đang mang thai, trước trong và sau khi đẻ, đang nuôi con bú.





Phần lớn người bệnh mới biết các chống chỉ định liên quan đến các bệnh mạn tính (như; viêm loét dạ dày tá tràng cao huyết áp, suy gan thận...) ít biết các chống chỉ định liên quan đến các bệnh cấp tính.





Cẩn thận hơn khi dùng aspirin cho trẻ em





Với trẻ em: aspirin gây ra các TDKMM cho trẻ em như người lớn nên tất cả những chống chỉ định với người lớn cũng là chống chỉ định cho trẻ em. Nhưng các TDKMM dễ xảy ra và ở mức nặng hơn ở trẻ em. Do đó, không dùng aspirin cho trẻ em dưới 16 tuổi. Riêng trường hợp đang bị nhiễm virút thì cả trẻ 18 tuổi cũng không được dùng aspirin (tránh bị hội chứng Reye). Tuy nhiên, thầy thuốc có thể chỉ định aspirin cho trẻ dưới 16 tuổi trong một số trường hợp ngoại lệ.





Khi có những chỉ định ngoại lệ này bà mẹ cần yên tâm cho con dùng aspirin song phải cùng với thầy thuốc theo dõi chặt chẽ.


NGƯỜI BỆNH CẦN LƯU Ý GÌ?



Nhóm thuốc chẹn beta được dùng không chỉ trong điều trị tăng huyết áp mà còn dùng trong đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim, suy tim. Việc chọn lựa thuốc thích hợp cho các bệnh này do thầy thuốc quyết định, song người bệnh cần hiều rõ các tác dụng phụ, tương tác của chúng để dùng đúng, tránh tai biến. Một số thuốc trong nhóm này như atenolol, metoprosol, bisoprolol, propranolol, narodol, timolol, carvediol, lebatol...








Cần tuân thủ chỉ định điều trị của thầy thuốc.


Khi dùng nhóm thuốc này, một số tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như gây ra hoặc làm nặng thêm suy tim, gây co thắt phế quản...





Cũng cần chú ý tới sự tương tác với các thuốc dùng đồng thời, trong đó có tương tác làm nặng thêm tác dụng phụ của thuốc. Đới với các thuốc hạ huyết áp khác, thuốc làm tăng hiệu lực hạ huyết áp, song cũng làm tăng tác dụng phụ của chẹn beta (làm chậm nhịp tim, tụt huyết áp mạnh, gây ra hoặc làm nặng thêm suy tim, gây block nhĩ - thất, còn có thể gây loạn nhịp tim). Mức tương tác cũng khác nhau. Với nhóm lợi niệu (thiazid) vẫn có thể phối hợp được, nhưng cần điều chỉnh liều; Nếu trước đó đã dùng lợi niệu thì phải ngừng lợi niệu vài ba ngày rồi mới dùng chẹn beta; Nếu muốn dùng cùng lúc thì phải khởi đầu chẹn beta liều thấp. Với nhóm chẹn canxi (bebridil, nifedipin, diltiazem, verapamil) tương tác ở mức nghiêm trọng, dẫn tới suy tim, tuyệt đối không phối hợp.






Khi dùng chung với thuốc chống loạn nhịp khác (như propafenon amiodaron, quinidin, disopyramid), chẹn beta làm tăng tính ức chế tim (gây rối loạn co bóp tim), tăng sự làm chậm dẫn truyền nhĩ thất lên quá mức (gây rối loạn dẫn truyền), hủy các tác dụng điều hòa tim mạch và điều hòa giao cảm làm mất tác dụng của các thuốc này.





Do có những tác dụng phụ và các tương tác trên, người bệnh cần tuân thủ tuyệt đối sự chỉ định của thầy thuốc, không tự ý chọn thuốc hay thay đổi thuốc. Thực hiện đúng lịch khám định kỳ, chấp hành sự điều chỉnh thuốc nếu có, dùng đúng liều, khởi đầu liều thấp rồi tăng dần đến liều hiệu lực, không tự ý tăng liều theo cảm giác chủ quan (liều cao không tăng hiệu lực mà tăng tác dụng phụ).





Việc dùng lâu dài cơ thể đã quen với trạng thái ức chế nên không ngừng thuốc đột ngột, vì ngừng đột ngột sẽ làm tăng chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp thất. Trong quá trình dùng thuốc, nếu thấy có biểu hiện suy tim thì báo ngay với thầy thuốc để được xử lý kịp thời. Khi đến phòng khám người bệnh cần mang theo y bạ để thầy thuốc nắm chắc tình trạng chung về thận, gan và có xử lý thích hợp.


Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

CÁCH NÀO ĐIỀU TRỊ ZONA DỨT ĐIỂM.



Bệnh zona có nguyên nhân do virut xâm nhập hướng da - thần kinh ngoại biên có tên Strogiloplas zonae. Yếu tố khởi động bao gồm nhiễm khuẩn cấp và mạn như: viêm phổi, lao, giang mai, sốt do nhiễm siêu vi..., stress về tinh thần, làm việc quá căng thẳng, suy giảm về thần kinh và thể lực, người già yếu...





Sơ lược về bệnh zona (hespet zoster)





Triệu chứng lâm sàng: Đối với những thể nặng có biểu hiện: sốt, rét run, triệu chứng quan trọng là đau kiểu bỏng, buốt từng cơn nơi sắp xuất hiện tổn thương, đôi khi triệu chứng này khiến bệnh nhân đi khám không đúng chuyên khoa và thầy thuốc đa khoa cũng dễ chẩn đoán nhầm là đau thần kinh ngoại biên, đau cột sống...














Sau giai đoạn tiền triệu khoảng nửa ngày đến một ngày thì bắt đầu xuất hiện thương tổn: những mảng da đỏ, hơi nề nhẹ, có đường kính khoảng vài cm, gờ cao hơn mặt da bình thường, các mảng da này sắp xếp dọc theo dây thần kinh chi phối và dần dần nối với nhau thành dải, thành vệt.





Sau vài giờ thì trên những mảng đỏ da này xuất hiện nhiều mụn nước, bọng nước tập trung thành đám giống như chùm nho, lúc đầu mụn nước căng, dịch trong, về sau đục, hóa mủ, dần dần vỡ đóng vảy tiết, dưới vảy tiết là vết loét nhỏ.





Những vết loét nhỏ này nếu không bị bội nhiễm vi khuẩn thì sẽ lành trong vòng 2 - 3 tuần, để lại trên da những sẹo nhỏ hơi lõm, nếu không bị di chứng đau thần kinh thì coi như bệnh đã khỏi hoàn toàn.







Các thể lâm sàng rất đa dạng, thường gặp các thể sau đây: zona liên sườn, zona ngực - bụng, zona cổ vai cánh tay, zona hông - bụng, zona sinh dục - bẹn, zona cùng cụt, zona mặt, zona đầu, zona hạch gối (gây thương tổn vành tai kèm theo rối loạn cảm giác 2/3 trước lưỡi, ù tai, điếc, có trường hợp gây liệt 1/2 mặt), zona mắt (nhánh mắt của dây thần kinh III) dễ gây viêm màng tiếp hợp, viêm giác mạc, viêm mống mắt, viêm đồng tử, teo gai thị và có thể dẫn đến mù.





Thuốc điều trị zona





Thuốc kháng virut:





Acyclovir: Trẻ em trên 12 tuổi uống như người lớn, trẻ em dưới 12 tuổi 20mg/kg thể trọng/lần, uống 4 lần/ngày. Chống chỉ định: mẫn cảm với thuốc. Thận trọng khi dùng ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu, trừ khi lợi ích của việc dùng thuốc vượt trội. Giảm liều ở người bệnh suy chức năng thận.





Valacyclovir, một tiền chất của acyclovir, sản sinh nồng độ acyclovir huyết thanh cao cấp gấp 3 - 5 lần nồng độ đạt được nếu dùng acyclovir đường uống.





Famciclovir một tiền chất của penciclovir, có kết quả tốt hơn so với giả dược trong việc làm giảm thời gian bài xuất virut, hạn chế thời gian hình thành tổn thương mới và đẩy nhanh việc lành sẹo.





Kháng sinh: Có thể kết hợp với kháng sinh đường uống hay tiêm đề phòng bội nhiễm.





Các thuốc điều trị triệu chứng như hạ sốt, giảm đau, vitamin tổng hợp liều cao.





Thuốc ức chế 3 vòng: Nếu bệnh nhân đau nhiều thì có thể dùng thuốc ức chế 3 vòng amitriptylin. Chống chỉ định dùng đồng thời với các chất ức chế monoamin oxydase, không dùng cho người bệnh mới hồi phục sau nhồi máu cơ tim. Thận trọng ở các trường hợp: động kinh không kiểm soát được, suy giảm chức năng thận, tăng nhãn áp, bệnh tim mạch, cường giáp. Tác dụng phụ: có thể bí tiểu do co thắt bàng quang, loạn nhịp tim ở một số người có bệnh tim mạch, hoa mắt, suy nhược, nhức đầu, ù tai, xuất hiện hội chứng ngoại tháp, ngầy ngật, mệt, kích động, hưng cảm nhẹ. Buồn nôn, nôn, chán ăn, ợ chua, đau bụng, tiêu chảy.





Thuốc giảm đau nhóm ức chế thần kinh như gababentin. Chống chỉ định ở người đang lái tàu xe và vận hành máy vì thuốc gây ngủ. Thận trọng: dưới 18 tuổi, ở phụ nữ có thai và cho con bú nên cân nhắc trừ khi lợi ích của việc dùng thuốc lớn hơn.





Tác dụng phụ: tăng huyết áp, yếu mệt người, đầy hơi, chán ăn, buồn nôn, đau khớp, chóng mặt, giảm phản xạ gân xương, hồi hộp lo âu.





Thuốc bôi chăm sóc tại chỗ đề phòng lột da: dung dịch castelani, xanhmetilen, eosin 2%… trong thời gian 3-5 ngày đầu. Kháng sinh dạng kem như foban bôi trong các ngày cuối để tổn thương chóng lành và liền sẹo.





Di chứng sau zona và cách phòng đau thần kinh sau zona





Bệnh thường để lại trên da sẹo lõm và mất sắc tố da, làm cho da trở nên loang lổ đặc biệt là trường hợp bội nhiễm vi khuẩn gây loét nhiều, để lại sẹo lớn, gây ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ.





Những tổn thương nếu không điều trị đúng rất dễ bội nhiễm tại chỗ làm cho vết loét rộng hơn, sâu hơn và kéo dài thời gian lành bệnh, qua nhiễm trùng tại chỗ đôi khi gây nhiễm trùng toàn thân, nhiễm trùng huyết.





Đau thần kinh sau zona: Do virut hướng da - thần kinh ngoại biên (ái thần kinh ngoại biên) chúng xâm nhập thần kinh và gây xơ hóa các đầu mút dây thần kinh ngoại biên nơi thương tổn bởi một chất do virut tạo ra tạm gọi là yếu tố “B”.





Một số thể đặc biệt: có thể để lại điếc vĩnh viễn, sụp mi mắt, mù mắt vĩnh viễn, méo miệng do liệt dây thần kinh số 7.





Cách đề phòng đau thần kinh sau zona: Chỉ có cách duy nhất là phải được điều trị sớm ngay ngày đầu tiên hoặc ngày thứ 2 sau khi có triệu chứng tiền triệu. Điều trị bằng thuốc kháng virut đúng liều, đúng khoảng cách dùng thuốc và đủ liệu trình điều trị là 7- 10 ngày.





Tùy vào trường hợp cụ thể mà kết hợp thuốc kháng virut với nhiều loại thuốc khác nữa để kết quả điều trị được đảm bảo.





Bệnh nhân cần nghỉ ngơi và nâng cao sức đề kháng là một chế độ không kém phần quan trọng trong điều trị, đòi hỏi bệnh nhân cần phải nghỉ ngơi tuyệt đối, vì vậy, khuyên bệnh nhân nên nằm viện là tốt nhất.

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ.




Chậm phát triển trí tuệ (hay bệnh ngu đần) là bệnh lý do thiểu năng giáp bẩm sinh làm trẻ chậm phát triển tinh thần và thể chất. Nếu không được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời, trẻ sẽ tử vong hoặc lùn và đần độn suốt đời.



Nguyên nhân



Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, có chức năng thẩm thấu hormon và thẩm thấu vào máu đi khắp cơ thể. Hormon tuyến giáp có chức năng sao chép các gen, tác dụng lên hoạt động chuyển hóa của tế bào, làm tăng trưởng và biệt hóa các tổ chức, nhất là xương, hệ thần kinh, đặc biệt là hoạt động của các cơ quan như tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh và các tuyến nội tiết khác. Nguyên nhân gây thiểu năng tuyến giáp gồm có: loạn sản (không có tuyến giáp, tuyến giáp teo nhỏ hoặc nằm lạc chỗ), rối loạn tổng hợp hormon giáp và thiếu iốt trong thực phẩm.






Cách phát hiện sớm: Rất khó nhận biết ở trẻ sơ sinh. Trẻ đẻ ra thường có cân nặng cao nhưng sau đó rất chậm tăng thêm cân. Khó ăn, khó thở. Ít khóc, ít vận động. Trông đần độn, thờ ơ với mọi vật, ngủ ít. Chậm phát triển tinh thần và thể lực. Thân nhiệt thường thấp. Da khô lạnh và dày. Tóc mọc thấp dưới trán. Sưng trẽ mi mắt. Người càng ngày càng ngắn đi so với tuổi. Khó khăn về nghe. Hay táo bón.



Thời gian thiếu hormon giáp trạng càng lâu thì trẻ càng chậm lớn, lùn, chân tay ngắn và mập, thóp chậm đóng, chậm mọc răng, chậm đi đứng và nói, trí khôn kém.
Phục hồi chức năng



Điều trị sớm và liên tục bằng hormon tuyến giáp. Ngoài ra, hoạt động trị liệu rất quan trọng. Các hoạt động trị liệu nên được chia thành những phần việc nhỏ hơn. Ví dụ, việc tắm rửa có thể chia thành giai đoạn múc nước, cầm lấy xà phòng khi cha mẹ đưa cho trẻ, tự xoa xà phòng lên người, dội nước để làm sạch xà phòng và lau khô người bằng khăn tắm. Từng phần việc này phải được học riêng trước khi kết hợp thành một hành động phức hợp. Mỗi hoạt động nên được thực hành liên tục trong vòng ít nhất hai tuần trước khi chuyển sang dạy hoạt động tiếp theo. Nên khích lệ trẻ thậm chí khi cảm thấy điều đó là vô nghĩa. Ví dụ, có thể nói chuyện hay đọc sách cho trẻ, có thể cần phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp cho những trẻ bé hơn, khi trẻ nói nhiều hơn, nên tăng mức độ giao tiếp và kể chuyện cho trẻ.



Đa phần trẻ bị chậm phát triển tâm thần nhẹ có thể đến trường được. Nhiều trẻ có thể học ở trường chính quy, đặc biệt là khi giáo viên quan tâm tới những nhu cầu của các trẻ này. Những trẻ chậm phát triển khác có thể cần phải học ở trường dành cho trẻ em khuyết tật. Hầu hết trẻ dạng này có thể tự chăm sóc bản thân và khá độc lập trong cuộc sống. Những trẻ em này chủ yếu gặp khó khăn trong việc kết bạn khi chúng trưởng thành và tìm việc làm. Những công việc thường nhật có thể sẽ là công việc lý tưởng cho chúng.



Hầu hết trẻ bị chậm phát triển tâm thần thể vừa sẽ cần học ở những trường đặc biệt. Chúng có thể sẽ cần tới sự gợi ý và trợ giúp trong các hoạt động hằng ngày. Ví dụ, trẻ cần học cách tự tắm rửa hay tự đi vệ sinh nhưng cũng cần có người nhắc hay thỉnh thoảng phải kiểm tra. Hầu hết những trẻ này phụ thuộc vào gia đình trong vấn đề hòa nhập xã hội. Hầu hết không đủ khả năng làm những việc thông thường. Giáo dục giới tính là cần thiết ở tuổi trưởng thành.



Những trẻ bị chậm phát triển tâm thần thể nặng dường như cần phải được chăm sóc suốt đời. Chúng có thể còn bị tàn tật về thể chất và mắc những vấn đề sức khỏe. Khả năng kiểm soát co bóp bàng quang và ruột phát triển rất muộn. Những trẻ này thậm chí còn không đủ khả năng học ở những trường đặc biệt. Chúng không thể làm được việc gì trong cuộc sống.




                                                                                                

LÂY TRUYỀN TỪ MẸ SANG CON SẼ ĐƯỢC LOẠI TRỪ NĂM 2015



“Hướng tới loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con vào năm 2015” là một trong những mục tiêu chính do Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra tại Hội nghị cấp cao về phòng, chống HIV/AIDS tháng 6/2011 mà Việt Nam đã cam kết thực hiện và xác định là một trong những mục tiêu chủ yếu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Đây cũng là chủ đề của những Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con năm 2012 và những năm tiếp theo.





Thành tựu...





Theo tính toán của các chuyên gia, nếu không có bất kỳ can thiệp nào nhằm ngăn chặn sự lây truyền HIV từ mẹ sang con thì tỷ lệ lây truyền HIV từ người mẹ nhiễm HIV sang con của mình là từ 35 - 40%. Như vậy, nếu không can thiệp chủ động và tích cực, mỗi năm Việt Nam có khoảng 2.000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV từ mẹ. Tuy nhiên, nếu được can thiệp kịp thời và toàn diện thì tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con có thể giảm xuống dưới 5%, thậm chí dưới 2% con, có nghĩa là mỗi năm chúng ta có thể cứu được từ 1.800 - 1.900 cháu bé khỏi nhiễm HIV thông qua các hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (dưới đây viết tắt là DPLTMC).













Xác định đây là hoạt động có hiệu quả cao, thiết thực và mang đầy tính nhân văn cao cả, trong những năm qua, Bộ Y tế đã chỉ đạo các sở y tế từ Trung ương đến địa phương tích cực triển khai các hoạt động DPLTMC, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất tỉ lệ trẻ em bị nhiễm HIV do mẹ truyền sang. Để thúc đẩy các hoạt động DPLTMC và đảm bảo cho các hoạt động này được thực hiện một cách đúng đắn và hiệu quả trên phạm vi toàn quốc, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế đã tổ chức biên soạn và ban hành nhiều tài liệu hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về DPLTMC theo cả 04 hợp phần được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, bao gồm: Dự phòng sớm lây nhiễm HIV cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ độ tuổi sinh đẻ; Phòng tránh thai ngoài ý muốn cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV; Các can thiệp cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV; Cung cấp cách chăm sóc, hỗ trợ và điều trị thích hợp cho bà mẹ nhiễm HIV và con của họ sau sinh.







Với những nỗ lực của các cơ quan chức năng và sự tham gia của toàn xã hội, đến hết tháng 6/2012, riêng trong lĩnh vực can thiệp (hợp phần 03 và 04) cả nước ta đã có 226 điểm cung cấp dịch vụ DPLTMC (2 điểm tuyến Trung ương, 92 điểm tuyến tỉnh, 132 điểm tuyến huyện, chiếm khoảng 25% số huyện trong toàn quốc). Tại các điểm cung cấp dịch vụ này, phụ nữ mang thai được tư vấn và xét nghiệm HIV. Nếu phát hiện nhiễm HIV, phụ nữ mang thai được điều trị DPLTMC bằng thuốc kháng virut (ARV) từ tuần thai thứ 14, trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV được điều trị dự phòng bằng ARV 4 tuần sau sinh, được hỗ trợ sữa ăn thay thế sữa mẹ, được điều trị dự phòng các nhiễm trùng cơ hội và chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV bằng phương pháp xét nghiệm tìm kháng nguyên. Tất cả các dịch vụ này hiện nay đều được miễn phí.





Và những nỗ lực





Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều phụ nữ mang thai không tiếp cận được các dịch vụ DPLTMC. Nguyên nhân chủ yếu do họ thiếu thông tin, thiếu kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS nói chung và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con nói riêng nên không chủ động tìm kiếm dịch vụ. Sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS cũng là rào cản làm cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV khó tiếp cận các dịch vụ và nếu có thì cũng ở giai đoạn muộn làm ảnh hưởng đến hiệu quả của can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.





Hướng tới mục tiêu loại trừ tình trạng lây truyền HIV từ mẹ sang con, WHO khuyến cáo các quốc gia triển khai đồng bộ các can thiệp DPLTMC. Phụ nữ mang thai nhiễm HIV được điều trị bằng ARV phác đồ 3 thuốc càng sớm càng tốt không phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bệnh (triệu chứng lâm sàng và số lượng tế bào CD4) và duy trì điều trị ARV cho bà mẹ sau sinh con. Khuyến khích mổ lấy thai (nếu có chỉ định y khoa) và nuôi trẻ bằng sữa thay thế sữa mẹ đồng thời với việc điều trị dự phòng bằng ARV cho trẻ đến 4-6 tuần tuổi.





Hiện tại, Việt Nam đang triển khai thí điểm thực hiện khuyến cao trên của WHO tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và toàn bộ các quận, huyện thuộc thành phố Cần Thơ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Y tế sẽ có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam trước khi mở rộng.





Từ năm 2013 trở đi, các dịch vụ DPLTMC được lồng ghép triệt để vào hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản nhằm tiếp cận với phụ nữ mang thai sớm nhất, nhằm có thể khắc phục tình trạng xét nghiệm HIV muộn và điều trị DPLTMC bằng ARV muộn ở phụ nữ mang thai nhiễm HIV. Hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản có mạng lưới “chân rết” đến tuyến xã và thôn bản vì vậy sẽ chăm sóc và hỗ trợ phụ nữ mang thai và con của họ tốt hơn trong suốt quá trình mang thai và sau sinh. Đồng thời với cách tiếp cận này, Bộ Y tế đang triển khai thí điểm mô hình Sáng kiến điều trị 2.0. Mô hình này cung cấp dịch vụ gần dân, đơn giản và giảm chi phí, lấy trạm y tế xã làm trung tâm cung cấp dịch vụ toàn diện liên quan đến phòng, chống HIV/AIDS, trong đó có DPLTMC. Tại Việt Nam, để loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con, đồng thời với các nỗ lực của Chính phủ, các địa phương cần triển khai thực hiện đầy đủ 04 hợp phần của một chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con toàn diện (như trên), trong đó tập trung vào làm giảm sự lây truyền HIV trong phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ; Phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai để kịp thời can thiệp toàn diện các biện pháp dự phòng đối với mẹ và con để ngăn chặn tình trạng lây nhiễm HIV từ mẹ.